Khu di tích đền thờ Ỷ Lan Nguyên phi tại huyện Gia Lâm, Hà Nội
Vượt qua 18km từ Hà Nội, qua cầu Chương Dương theo Quốc lộ 5 du khách sẽ tới tham quan cảnh đẹp của đền, chùa thờ Đức Quốc Mẫu Ỷ Lan Nguyên phi ở xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ỷ Lan Nguyên phi là một trong những danh nhân có tài trị nước xuất chúng của dân tộc ở thế kỷ XI.
Ngay từ Quốc lộ 5 theo biển chỉ dẫn đi vào khu di tích, từ xa du khách đã nhìn thấy tấm biển ghi dấu đền thờ Nguyên phi Ỷ Lan đã được xếp hạng. Qua 2 cổng, du khách sẽ vào trong quần thể khu di tích đền thờ Nguyên phi Ỷ Lan gồm chùa, đền, điện, sơn trang nằm trong khuôn viên có sân, nhà thủy đình, cây xanh các loại rộng khoảng 3ha. Chùa và đền thờ Nguyên phi Ỷ Lan còn có tên gọi là chùa “Bà Tấm”, đền “Bà Tấm”, chùa Cả, đền Cả. Nằm ở phía tay trái, trước cửa đền thờ Nguyên phi Ỷ Lan là đôi rồng chầu bằng đá phủ phục, với đường nét, chạm khắc hết sức tinh xảo. Qua các bậc xây, du khách đi vào trong đền. Đền được xây dựng từ cuối thế kỷ XI, là nơi phụng thờ bà ngay chính trên quê hương Người. Đền có kiến trúc theo lối cung đình thời Lý, có 72 cửa, thuộc loại cổ nhất nước ta, cách không xa đền phía tay phải có chùa mang tên: “Linh Nhân tư Phúc Tự” do chính Linh Nhân Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan xây dựng cùng với hàng trăm ngôi chùa khác, được khánh thành tháng 03 năm Ất Mùi (1115).
Trong đền và chùa hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật quí và hiếm. Nổi bật là đôi sư tử điêu khắc bằng đá, sư tử được tạc từ một khối đá lớn, cao 1,20m, rộng 1,36 m trong tư thế nằm phủ phục, đường nét đặc biệt mềm mại, tạo cho chúa sơn lâm một vẻ đẹp vừa uyển chuyển vừa oai hùng mạnh mẽ. Các chi tiết: đôi mắt to, lồi hẳn ra ngoài, ẩn dưới đôi lông mày rậm, mũi hở, hàm răng đều đặn, răng nanh to, nhọn và khỏe, nhất là chân mập. Có những móng cong sắc, quắp chặt, khiến cho người xem thấy rõ chúa sơn lâm tiềm ẩn sức mạnh phi thường. Tuy nhiên bằng tài nghệ điêu khắc khéo léo, tuyệt vời, bằng cách sử dụng nhiều họa tiết đan móc, khi thì gợn nhỏ tựa lưng vào nhau thành đường viền quanh miệng, khi thì to sù lên ở vai, khi lại xếp thành những bông hoa hé nở ở móng và chân, khiến cho người xem có ấn tượng vật đang sống, vẫn thở nhịp nhàng.
Khác với những con sư tử thường thấy điêu khắc ở các đình chùa, sư tử trong đền thờ Ỷ Lan đang vờn ngọc, đồng thời trên trần được trổ chữ “vương” khẳng định vị trí chúa tể muôn loài, bảo vệ báu vật của đất nước. Đây là 1 công trình nghệ thuật tuyệt tác, một hiện vật cổ quí và hiếm ở Việt Nam và còn cả ở khu vực Đông Nam Á. Trong cung còn 2 khám cổ thời Mạc hiện tìm thấy, các máng chạm trên khám như hoa lá, rồng phượng đều có giá trị về nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Việt Nam.
Trong đền và chùa “Bà Tấm” còn có 1 thành bậc đá liền khối điêu khắc rồng, lân thời Lý đang chạy xuống, dài 1,30m, cao 0,80m, nặng hàng chục tấn và nhóm tượng ba ông Tam thể ngồi trên đầu 2 con sư tử cao 4m, tạc bằng đá khối rất tinh xảo, cũng là những hiện vật độc đáo đã trải qua gần 9 thế kỷ, còn lại đến hôm nay. Đáng chú ý trong đền có tượng Nguyên phi Ỷ Lan được tạc rất đẹp, khi bà là Nguyên phi cùng tượng 6 vị “Cung nữ trong triều” (lục bộ), tương truyền là sáu bà giữ 6 bộ trong triều đình giúp bà nhiếp chính. Đặc biệt còn có đôi câu đối ở đền từ cổ xưa ghi rõ: Thập bát tứ, diệu phong thế tại tam truyền chiêu lệnh thục. Bách dư sở tự quán địa lưu cổ trạch tối linh thanh (có nghĩa là: đời nhà Lý thứ ba kén được người con gái đẹp, có đức có tài - trên đất nước ta có trên một trăm nơi thờ nhưng đây chính là quê hương của bà được lưu truyền, đến ngày nay và rất linh thiêng.
Hiện nay, theo thống kê trên cả nước ta có 72 nơi lập đền thờ bà, nhưng chùa và đền thờ Ỷ Lan được xây dựng ở Dương Xá ngay chính trên quê hương bà. Qua nhiều lần trung tu, lần lớn nhất là vào năm 1612, nhưng đến nay vẫn giữ được vẻ nguyên sơ của nó với nét kiến trúc mang đậm dấu ấn văn hóa nhà Lý, vừa mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc lại vừa mang giá trị nghệ thuật cao, thực sự là một công trình nghệ thuật độc đáo, quí hiếm của dân tộc. Với hệ thống truyền thuyết cùng các địa danh gắn bó với việc Ỷ Lan giúp vua Lý Thánh Tông và những di vật cổ của thời Lý hiện còn đã đưa khu di tích chùa và đền thờ bà Ỷ Lan ở Dương Xá trở thành trung tâm văn hóa nổi bật nhất, quan trọng nhất trong hệ thống di tích, tưởng niệm Nguyên phi Ỷ Lan. Nơi đây không chỉ thờ phụng một danh nhân lịch sử văn hóa nổi tiếng của cả nước mà còn là điểm di tích cách mạng rất đáng trân trọng của dân tộc. Trong thời gian tiền khởi nghĩa, đây là nơi được đón các đồng chí Trung ương và Xứ ủy Bắc kỳ như: Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt, Văn Tiến Dũng v.v... đi về hoạt động.
Hàng năm cứ vào dịp từ 19 đến 21 tháng 2 âm lịch, du khách thập phương lại hành hương về Dương Xá tham dự lễ hội truyền thống kỷ niệm ngày Nguyên phi Ỷ Lan đăng quang và ngày 24, 25 tháng 7 âm lịch, ngày mất của bà. Tất cả cùng về thắp hương tưởng niệm, nhớ về người phụ nữ có tài kinh bang tế thế, từng đã 2 lần nhiếp chính trông coi việc nước mà người phụ nữ đã nổi danh trong lịch sử nước nhà.
Chùa Liên Phái: Một di tích lịch sử giá trị của Hà Nội
Ở giữa phố Bạch Mai, Hà Nội, tọa lạc một ngôi chùa cổ kính với gần 300 năm tuổi: chùa Liên Phái - một di tích lịch sử giá trị của thủ đô. Bước vào cổng chùa, ta gặp ngay một ngôi tháp 10 tầng hình lục lăng, đó là tháp Diệu Quang. Tiếp đó là nhà bia có tấm bia kể lại sự tích chùa.
Qua sân rộng là nhà bái đường, sau đó là hậu cung. Một khoảnh sân trồng hoa ngăn cách hậu cung với nhà tổ. Trong chùa có 15 pho tượng. Điều khiến cho chùa Liên Phái được coi như một di tích lịch sử giá trị chính là khu vườn tháp phía sau chùa. Tại đó, trên một gò đất cao có 9 ngôi tháp xây thành 3 hàng: hàng thứ nhất có hai ngôi, hàng giữa có năm ngôi và hàng sau hai ngôi. Hàng giữa choán phần cao nhất có ngôi tháp Cứu Sinh bằng đá là nơi táng hài cốt vị sư tổ thứ nhất, đồng thời là người sáng lập ra chùa Liên Phái: phò mã Trịnh Thập. Sự tích vị sư tổ Trịnh Thập được kể lại như sau: Trịnh Thập (hay Hợp, sinh năm 1696, mất năm 1733) là một tôn thất họ Trịnh được lập phủ đệ riêng ở phường Hồng Mai (nay là Bạch Mai). Một lần Trịnh Thập cho đào đất ở gò cao sau nhà để xây bể nước thì thấy trong lòng đất có một tảng đá hình ngó sen. Phò mã cho đó là dấu hiệu của Phật và tin rằng mình có duyên với đạo này. Sau đó, Trịnh Thập biến phủ đệ của mình thành chùa Liên Tông, đồng thời xuống tóc đi tu và trở thành vị tổ thứ nhất của chùa này. Khi mới 37 tuổi, sư tổ mất và hài cốt được táng trong ngôi nhà tháp xây ở giữa gò, nơi từng đào được ngó sen đá. Đó là tháp Cứu Sinh. Theo một tấm bia hiện còn ở chùa khắc năm 1857 thì chùa được xây vào năm 1726. Đến thế kỷ XIX, chùa Liên Tông đổi tên thành Liên Phái. Và ngôi chùa đã trên 250 năm, ngôi tháp Cứu Sinh cũng ngần ấy tuổi. Đây là ngôi tháp cổ có lai lịch rõ ràng nhất, hiện ở khu vực nội thành Hà Nội.
Làng cổ Đông Ngạc, Hà Nội
Đó là một ngôi làng cổ nằm sát chân cầu Thăng Long Hà Nội. Một làng quê cổ kính, đặc sắc bậc nhất của Hà Nội đến nay còn khá nguyên vẹn, mặc dù vùng ven đô đã bước vào quá trình đô thị hoá một cách quyết liệt nhất, mặc dù cây cầu Thăng Long lớn nhất Đông Nam Á vạch một nét ngang ngay cạnh làng, gần như vuông góc với con đê bê-tông chắn ngang qua trước cửa ngôi đình cổ...
Lần theo những con đường lát gạch nghiêng cổ kính, kết quả của những lần nộp cheo của các cô gái làng từ xa xưa, ta như thấy cả một quá khứ xa xăm hiện về cùng với làn khói bếp nhà ai đang lẫn giữa rêu phong của một toà cổng cũ... Và hôm nay đi dọc theo các ngõ nhỏ trong làng, thảng hoặc ta như được đắm chìm vào dĩ vãng của một thời xưa cũ còn vọng tiếng bình văn của kẻ sĩ, tiếng nô đùa của con trẻ và cả tiếng chuốt giang làm quang gánh, tiếng quay đất nặn nồi, tiếng giã giò rao nem đâu đây...
Và ta gặp ngay nghi môn đình làng Đông Ngạc - một ngôi đình có quy mô to lớn, nhiều hạng mục với các thành phần kiến trúc cổ kính và chuẩn mực đã tồn tại từ 500 năm nay. Đình được xây dựng trên một thế đất cao ráo, đắc địa ở phía Bắc làng, sát với đê sông Hồng. Tương truyền đình vốn xưa là một toà miếu cổ có từ thời Đường vào thế kỷ thứ VII. Năm 1635, dân làng đã cải tạo và mở rộng thành đình để thờ Thành Hoàng làng. Đình thờ 3 vị thần tượng trưng cho cả Thiên - Địa - Nhân. Thiên thần là Thần Độc Cước, do Phan Phu Tiên - một người làng rước về từ Sầm Sơn, Thanh Hoá; Nhân thần là Lê Khôi, cháu vua Lê Thái Tổ, cũng là một tướng lĩnh, được người làng là Đô đốc Đồng Xuyên Hầu rước về từ Nghệ An; Địa thần là Bản thổ Thành hoàng. Ngoài ra Đình còn thờ tiến sĩ Phạm Quang Dũng là người làng có công đứng ra trùng tu đình năm 1718 và ông Phạm Thọ Lý, người đã cung tiến đất làm đình lần đầu năm 1635. Trong đình hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật quí, có giá trị như bia đá và bộ tranh sơn mài thời Lê, các nhang án gỗ được chạm khắc tinh xảo, trau chuốt.
Hàng năm, vào ngày 09 tháng 2 âm lịch là ngày hội làng. Xưa làng Đông Ngạc vào đám, có hát ca trù mấy ngày liền, với nhiều nghi lễ trang trọng và nghiêm trang. Lê Đức Mao (1462 - 1529) một người hay chữ trong làng đã thay mặt các giáp, soạn ra 9 bài thơ dài để đọc lên lúc thưởng lụa và tiền cho các đào nương. Và 9 bài thơ đó là tư liệu chữ viết đầu tiên về ca trù trong kho tàng di sản Hán Nôm, và cũng là cứ liệu sớm nhất về thơ lục bát và song thất lục bát trong lịch sử văn học Việt Nam.
Làng có chùa Tư Khánh, một ngôi chùa có từ rất sớm. Theo danh sĩ Phạm Đình Hổ, chùa còn có quả chuông đúc năm Diên Hựu thứ 2 tức năm 1315 (Diên Hựu là niên hiệu nhà Nguyên - Trung Quốc). Trong chùa hiện còn có tấm bia có niên đại Thịnh Đức ghi rõ công đức của vợ chồng ông Nguyễn Phúc Ninh, cúng gia tư điền sản để tu bổ, dựng lại chùa, và được dân làng tôn làm Hậu Phật. Cùng với quần thể kiến trúc của chùa bao gồm tam quan, gác chuông, phương đình, tiền đường, hậu cung và nhà Tổ; những pho tượng được tạo tác công phu mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII - XIX càng tôn thêm giá trị của ngôi chùa.
Nhà thờ Đỗ Thế Giai, một quan chức cao cấp thời Lê Trịnh là nơi còn giữ được khá nhiều những di vật có giá trị. Đây cũng là ngôi nhà được chọn làm bối cảnh quay nhiều phim truyện, phim truyền hình. Bên cạnh nhà thờ họ Đỗ, còn hàng loạt các nhà thờ họ khác nữa, như các họ Phạm, Phan, Nguyễn, Hoàng. Làng có 6 xóm, hiện tồn tại trên 100 ngôi nhà cổ có thời gian xây dựng trên 100 năm, nhiều ngôi nhà gỗ được đục chạm công phu thể hiện nét tài hoa của các nghệ nhân xưa.
Làng Đông Ngạc nằm bên sông Nhị, nơi có bến Ngác và chợ Vẽ nổi tiếng khắp kinh kỳ. Vào cái thuở đường thủy còn là huyết mạch giao thông thì bến Ngác khi ấy là một nơi trên bến dưới thuyền và chợ Vẽ là một "trung tâm thương mại". Đông Ngạc là tên chữ của làng Vẽ, vốn là một làng nổi tiếng về một số nghề thủ công truyền thống như chuyên sản xuất nem ("giò Chèm, nem Vẽ"), làm quang gánh, nặn nồi đất...
Giàu mạnh về kinh tế, lại có vị trí gần sát với kinh thành Thăng Long nên người dân trong làng rất thuận tiện khi ra kinh ăn học hoặc rước thầy giỏi từ kinh đô về dạy trong làng. Và làng Đông Ngạc đã góp cho đất nước 25 vị Tiến sĩ và cả ngàn Hương cống, Cử nhân, Sinh đồ, Tú tài... Làng Đông Ngạc vì thế đã nổi tiếng với các danh nhân như thời phong kiến có Phan Phu Tiên, Đỗ Thế Giai, Lê Đức Mao, Phạm Gia Chuyên, Hoàng Nguyễn Thự... thời cận đại với Phan Văn Trường, Hoàng Tăng Bí... và ngày nay là Hoàng Minh Giám (cố Bộ trưởng Bộ Văn Hoá), GS-TS Phạm Gia Khánh (Giám đốc Học viện Quân Y), GS-TS Phạm Gia Khải (Viện trưởng Viện Tim Mạch), TS Phạm Gia Khiêm (đương kim Phó Thủ tướng Chính phủ) và nhiều nhà khoa học, chính khách danh tiếng... Người Đông Ngạc làm quan khắp nơi và không thời nào không có các vị triều quan về làng đóng góp tiền của và trí tuệ để xây dựng quê hương.
Khó có thể nói hết, viết hết về những vẻ đẹp của Đông Ngạc, một làng có nhiều nhất các bản sách cổ còn lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, một làng ven đô mà nét cổ xưa còn lưu lại trên lối mòn gạch nghiêng in dấu chân gái làng xuất giá, trên rêu phong cổng ngõ gió lùa, trên bia đá chùa xưa và trong cả nét đẹp tảo tần chăm chỉ trong nếp sống từ ngàn xưa truyền lại.
Làng Thanh Nhàn
Thanh Nhàn là một làng nhỏ, nằm giữa một vùng là đê Bình Lao (phía Bắc), các làng Bạch Mai (phía Tây), Quỳnh Lôi (phía Nam), Lương Yên (phía Đông). Dân làng phần lớn là người từ các tỉnh Hà Nam, Thái Bình lên lập nghiệp, cả một số dân ở các làng Yên Xá, Lương Yên, Thọ Lão sau khi bị thực dân Pháp chiếm đât để quy hoạch thành phố vào cuối thế kỷ XIX cũng chuyển xuống đây sinh sống.
Thanh Nhàn có hai thôn, vốn là hai xóm phát triển thành là Lạc Nghiệp (thôn Thượng) và An Cư (thôn Hạ). Tên thôn - làng đã nói lên ước vọng của các lớp cư dân khi định cư tại đây. Năm 1928, làng chỉ có 395 nhân khẩu. Các họ gốc là : họ Trịnh (thường nắm các chức tổng lý), họ Hoàng (có nhiều người làm công chức), họ Nguyễn (gốc ở làng Lương Yên chuyển xuông). Về sau có thêm các họ : Đỗ, Đoàn, Lê.
Đầu thế kỷ XIX, Thanh Nhàn là một thôn thuộc tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức (từ năm 1831 là tỉnh Hà Nội). Từ năm 1915 thuộc huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông (năm 1942 đổi thành Đại lý Đặc biệt Hà Nội). Trong kháng chiến chống Pháp lần lượt nằm trong các đơn vị hành chính : khu Đề Thám, quận VI, quận Ngoại thành. Ngày nay, làng Thanh Nhàn hợp với nhiều khu tập thể để trở thành phường Thanh Nhàn của quận Hai Bà Trưng.
Đa phần đất đai của làng Thanh Nhàn xưa kia là ao hồ, ruộng cấy lúa rất ít, nên chỉ có vài hộ làm ruộng, các gia đình trong làng đều trồng rau muống, khoai nước (vừa để ăn, vừa để chăn nuôi hoặc bán), nhiều gia đình có thổ cư rộng trồng các loại rau, cây ăn quả (nhiều nhất là ổi). Một bộ phận dân làng (chủ yếu là người họ Trịnh) làm giáo học hoặc làm thư ký cho các nhà buôn, các công xưởng. Một số khác làm công nhân cho Nhà máy nước Lương Yên, Nhà đèn Bờ Hồ… Đặc biệt, Thanh Nhàn là nơi dồn nước thải từ nội thành về nên xưa kia, nhiều người đi vớt bùn đựng vào các thúng, sọt để đi bán cho các gia đình trồng rau ở các làng khác, cho thu nhập khá cao so với trồng rau.
Một đặc điểm nổi bật của làng Thanh Nhàn trước Cách mạng là tính chất phân tán trong cơ cấu tổ chức do thành phần cư dân đa tạp, mâu thuẫn giữa các họ lớn thường xảy ra, ảnh hưởng đến cả việc xây dựng các công trình tín ngưỡng và thờ cúng. Làng nhỏ nhưng lại có đến ba ngôi đình : đình xóm Lạc Nghiệp (thôn Thượng) do người họ Trịnh lập ra, thờ hai vị Quận công họ Trịnh là Ly Quận công và Bảo Quận công; đình xóm An Cư (thôn Hạ) thờ Đoan Túc đại vương và ngôi đình của người làng Lương Yên chuyển xuống thờ Vua Bà. Dân hai xóm tổ chức thờ cúng riêng tại đình của mình, lễ thức rất đơn giản. Chẳng hạn đình Lạc Nghiệp chỉ làm lễ Xuân Thu nhị kỳ (tháng Hai à tháng Tám), không tổ chức rước, tháng Tư làm lễ Cầu mát.
Thanh Nhàn có ngôi chùa chung cho cả hai xóm, được dựng vào năm Mậu Tý niên hiệu Cảnh Hưng (1768).
Dân làng Thanh Nhàn xưa kia rất nghèo, lại sống giữa môi trường ẩm thấp, là nơi hứng chịu nước rác thải từ thành phố đổ về nên có lẽ vì thế mà ít người có tuổi thọ cao. Nam giới đến tuổi 45 đã “ra lão”, gọi là “bố non”. Vì thế, con trai lên 5 tuổi đã nộp tiền để “vào làng”.
Mở ra hướng cải tạo khu phố cổ
|
| Tác phẩm của Nguyễn Văn |
Tuần lễ "Sự kiện tuyến phố Hàng Buồm":
Nằm trong khuôn khổ dự án thí điểm "Phát triển bền vững khu phố cổ Hà Nội" (thuộc "Chương trình phát triển đô thị tổng thể thủ đô Hà Nội") do Cơ quan phát triển quốc tế Nhật Bản (JICA) phối hợp cùng UBND TP triển khai nhằm tìm ra kinh nghiệm và bài học thực tế phục vụ dự án quy hoạch tổng thể, tuyến phố Hàng Buồm của khu phố cổ đã được dự án lựa chọn để tiến hành một số hoạt động thí điểm cùng sự tham gia của người dân.
Một trong những hoạt động được triển khai là tuần lễ "Sự kiện tuyến phố Hàng Buồm" diễn ra từ 17 - 26.6 tại Nhà văn hoá 88 Hàng Buồm và đền Bạch Mã.
Phố Hàng Buồm xưa thuộc đất phường Hà Khẩu, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức. Phố mang tên Hàng Buồm, vì trước đây, người dân thường làm chiếu buồm và mành mành buồm để bán, vì phố nằm gần những con kênh nối sông Hồng với sông Tô và kinh thành Thăng Long. Từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX, Hàng Buồm trở thành nơi buôn bán và cư trú tập trung của người Hoa Quảng Đông và là một trong những phố đông đúc nhất của Hà Nội. Phố Hàng Buồm có các di tích lịch sử và địa chỉ văn hoá nổi tiếng như đền Bạch Mã, Hội quán Quảng Đông...
Từ tháng 9.2005, nhóm dự án đã tiến hành điều tra, khảo sát tình hình thực tế cũng như thu thập các tài liệu liên quan để đánh giá hiện trạng phát triển kinh tế, xã hội của khu phố cổ. Các báo cáo chi tiết về hình trạng phát triển kinh tế, xã hội cũng như những đánh giá, đề xuất của nhóm dự án nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị cốt lõi của khu phố cổ đã được trình bày rõ với chính quyền địa phương, ban ngành, đoàn thể và người dân địa phương.
Nhóm dự án cũng đã tiến hành nhiều cuộc thảo luận chuyên đề với người dân để tiếp thu những ý kiến đóng góp, mong đợi và nguyện vọng của người dân. Tuyến phố Hàng Buồm và ô phố (Hàng Buồm, Hàng Giày, Lương Ngọc Quyến, Tạ Hiện) thuộc phường Hàng Buồm đã được nhóm nghiên cứu dự án chọn để thực hiện các hoạt động thí điểm.
Nhóm chuyên gia của dự án đã sử dụng "Phương pháp đánh giá có sự tham gia của người dân" để lựa chọn các hoạt động ưu tiên. Được sự hỗ trợ của dự án, người dân và chính quyền địa phương đã tiến hành một số hoạt động thí điểm như: Cải tạo điều kiện vệ sinh và điều kiện kinh doanh tại một số nhà (53, 93 Hàng Buồm...); làm vệ sinh tuyến phố, lắp đặt hệ thống thùng rác công cộng; lắp mái hiên di động đoạn cuối phố; trùng tu các hộp sắc phong và giới thiệu các giá trị lịch sử của đền Bạch Mã...
"Sự kiện tuyến phố Hàng Buồm" là hoạt động tiêu biểu nhất, bao gồm triển lãm Photo Voice - các bức ảnh do chính người dân phố cổ chụp về cuộc sống hằng ngày của họ, giới thiệu ẩm thực phố Hàng Buồm, trình chiếu phim nhân học về các giá trị văn hoá phố cổ, giới thiệu mô hình bảo tồn và tái phát triển tại một ô phố thí điểm...
Nổi bật nhất là triển lãm Photo Voice với sự tham gia của 20 người dân khu phố cổ. Sau 3 tháng, gần 6.000 bức ảnh đã được chụp, phản ánh những mặt khác nhau của cuộc sống, văn hoá khu phố cổ. Việc làm này không chỉ nhằm lưu giữ, giới thiệu mà còn làm cho người dân cảm thấy thêm gắn bó, hiểu hơn và yêu quý hơn khu phố nơi mình sinh sống.
Ông Nguyễn Văn Sâm (71 tuổi) ở 85 Hàng Buồm - người chụp ảnh chợ đêm phố cổ - cho biết: "Khu phố cổ có chợ họp ban ngày và cũng có cả chợ ban đêm. Nếu không có chợ đêm, nơi đây sẽ buồn tẻ biết chừng nào".
Ông Iwata Shizuo - Trưởng đoàn nghiên cứu JICA - đánh giá: Với nội dung then chốt là sự tham gia của cộng đồng, dự án này sẽ mở ra những hướng giải quyết thích hợp cho việc cải tạo lại khu phố cổ trong giai đoạn tới.
|